Turn your device in landscape mode.
Đặt vé VinWonders
Chọn điểm đến

Chọn ngày
Người lớn
*cao từ 140cm
*cao từ 140cm
Trẻ em
*80-140cm
*cao từ 100cm-140cm *cao từ 80cm-140cm
Người cao tuổi
*từ 60 tuổi
*từ 60 tuổi
THVN

Tiệm Đông Y – Tinh hoa Việt Nam – Grand World

09/03/2025 432 views

Bộ Hành quán là một trong 15 gian hàng mô phỏng không gian văn hóa, đời sống người Việt xưa tại không gian Tinh hoa Việt Nam, Grand World, thuộc quần thể Phú Quốc United Center.

     Y học cổ truyền Việt Nam hình thành từ rất sớm, bắt đầu bằng việc dùng cỏ cây để phòng và chữa bệnh của tộc người Việt. Sau đó, cùng với sự giao lưu văn hoá các vùng miền, YHCT của người Việt lại tiếp nhận được nhiều tri thức và dược liệu phong phú trong thiên nhiên, trong đó có cả dược liệu phương Bắc.
Đông dược nói chung luôn tập trung vào việc cân bằng Âm-Dương trong cơ thể con người theo triết lý Âm Dương Ngũ Hành. Y học cổ truyền Việt Nam cũng thế, cũng tập trung vào điều hoà âm dương, nhưng có điểm đặc biệt hơn, đó là ưu tiên điều trị bằng Nam dược, với tôn chỉ của Thiền sư Tuệ Tĩnh: “Nam dược trị Nam nhân”.
Thiền sư Tuệ Tĩnh chính là người đặt nền móng cho Y học cổ truyền Việt Nam. Ông được coi là người sáng lập ra nghề thuốc Nam, sau này Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã tiếp nối và phát triển nghề thuốc dân tộc này. Hai vị này được xem là ông tổ ngành Đông y của Việt Nam, và đã để lại cho đời sau một kho tàng kiến thức đông dược đáng quý, nằm trong 2 bộ sách Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh và Nam Dược Thần Hiệu.

     Tiệm Đông Y là gian hàng giới thiệu về nền Y học cổ truyền Việt Nam. Nơi đây trưng bày những vị thuốc phổ biến trong đông dược như: Nhân trần, trần bì, cam thảo, đại táo, vỏ cây quế, ý dĩ, hạt ké, kỉ tử, lá dâm dương hoắc.

     1. Cây Cam Thảo

     Cam Thảo là loài dược liệu có vị ngọt và mùi thơm nhẹ, là vị thuốc rất phổ biến trong đông y, cũng là nguyên liệu thảo mộc tăng ngọt trong các món giải khát thường ngày. Hiện nay, cam thảo được trồng nhiều ở các vùng dược liệu miền Bắc nước ta.
Cam thảo là một vị thuốc bổ khí, có tác dụng chống suy nhược mệt mỏi. Đông y cũng thường sử dụng cam thảo bắc làm thuốc dẫn chữa nhiều bệnh như viêm họng, ho, nhiều đờm…các bệnh về đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày, tá tràng,..thanh nhiệt, giải độc.

     2. Dâm Dương Hoắc

     Cây Dâm dương hoắc vị cay ngọt, tính ấm; có công dụng ôn thận, tráng dương (làm ấm tạng thận và khỏe dương khí), cường cân tráng cốt (làm mạnh gân xương) và khứ phong, trừ thấp. Lá và rễ cây Dâm dương hoắc thường được ngâm rượu dùng làm thuốc bổ thận tráng dương, chữa các chứng muộn con, lưng đau gối mỏi, gân cốt co rút, bán thân bất toại, tay chân yếu lạnh, phong thấp. Ở Việt Nam, cây Dâm dương hoắc phân bố tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Sapa – Lào Cai, Hòa Bình, Lai Châu, Hà Giang.

     3. Nhân Trần

     Nhân trần còn có một số tên gọi khác như hoắc hương núi, chè nội, chè cát, tuyến hương lam, mạo xạ hương. Ở nước ta, cây mọc hoang thành bụi tập trung nhiều nhất các tỉnh phía Bắc. Nhân trần có vị hơi cay, đắng, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, trừ phong thấp, tiêu thũng độc, hành khí tán ứ, giảm đau, tiêu viêm, chống ngứa. Cây nhân trần dùng được cả lá, thân và rễ, phơi khô trong bóng râm, rồi hãm hoặc nấu nước uống.

     4. Trần Bì

     Trần bì không phải tên của một loại cây. Đây là một vị thuốc quen thuộc trong Đông dược, chính là vỏ quýt chín phơi khô, có mùi thơm, vị cay, đắng, tính ấm, tác dụng điều hòa khí huyết, tiêu đờm, kiện tỳ. Trần bì có công dụng chữa đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, ho có đờm, kém ăn, nôn mửa, tiêu chảy…

     5. Kỷ tử

     Kỷ tử hay Câu kỷ tử là một trong những vị thuốc có tác dụng dược lý rất phong phú, bổ gan-thận-phổi: tăng cường miễn dịch, bổ máu, giảm mỡ máu, bổ gan, chống gan nhiễm mỡ, chống oxy hóa và kiềm chế quá trình lão suy, dưỡng sáng mắt. Bởi thế mà Câu kỉ tử thường được kê chữa các bệnh can thận âm suy, lưng gối yếu mỏi, đầu choáng mắt hoa, mắt nhìn không rõ, di tinh, vô sinh…
Tại Việt Nam, câu kỷ tử thường được gọi ngắn gọn là củ khởi thường được đồng bào dân tộc trồng nhiều ở vùng Sa Pa (Lào Cai) và được coi là đặc sản khi thu hoạch cả đọt non và lá để làm rau nấu canh. Theo các chuyên gia Đông y thì loại rau này lành tính, bổ dưỡng, lợi sữa rất tốt cho bà mẹ sau khi sinh.

     6. Nhục quế

     Tên thường gọi: Quế, Quế đơn, Quế bì, Nhục quế, Ở Việt Nam có 4 vùng trồng cây quế tập trung là: Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá – Nghệ An và Quảng Nam – Quảng Ngãi. Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ của cây. Vỏ quế có chứa nhiều tinh dầu, tinh bột, chất nhầy, tanin và chất mầu. Dược tính của quế có vị cay ngọt, tính nóng, tác dụng chủ yếu vào gan và thận; công dụng bổ hoả, hồi dương, ấm thận, tỳ, tán hàn hoạt huyết. Nhục quế có tác dụng chữa phù thũng, đại tiện lỏng, trừ hàn, chân tay co quắp, lưng gối đau tê, tiểu tiện không thông; chữa rắn cắn, dùng ngoài bó gãy xương…

     7. Hạt Ý Dĩ

     Vị thuốc Ý dĩ còn gọi Giải lễ (Bản Kinh), Dĩ thực, Dĩ mễ, Dĩ nhân, Mễ châu (Biệt Lục), mọc hoang ở nơi ẩm mát, ven suối. Một số tỉnh đã trồng được cây ý dĩ như Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Lai Châu. Dược liệu được dùng là phần nhân bên trong hạt Ý dĩ, có màu vàng hoặc trắng, để nguyên hoặc đem sao vàng rồi sắc cùng thuốc.
Hạt ý dĩ vị ngọt, tính bình, hơi hàn, phối hợp với các thuốc khác trong điều trị các bệnh về hô hấp, dạ dày, tiêu hoá, gan…
Ngoài bồi bổ cơ thể thì hạt ý dĩ khá lành tính nên được khuyến khích dùng cho trẻ nhỏ. Phụ nữ sau sinh muốn tăng tiết sữa cũng có thể dùng hạt ý dĩ.

     8. Quả Ké Đầu Ngựa

     Cây ké đầu ngựa còn được gọi là cây phắc ma, hay xương nhĩ, thương nhĩ,xuất hiện ở nhiều tỉnh thành phía bắc nước ta như Vĩnh Phúc, Sơn La, Quảng Ninh hay Lào Cai.
Đông y sử dụng quả và thân cây ké đầu ngựa làm thuốc, có thể phơi khô rồi sắc chung với các vị thuốc khác trong thang, hoặc chế biến thành cao lỏng (cao thương nhĩ) hoặc cao mềm (thương nhĩ hoàn).
Loại thảo dược này có vị đắng, tính ấm, thường quy vào kinh phế, chữa cho người bị nổi mề đay, bệnh hắc lào, nổi mẩn đỏ và ngứa, mụn nhọt, chữa viêm xoang, đau họng, ho và sổ mũi kéo dài.

     9. Đại Táo

     Đây là vị thuốc Đại táo, hay còn gọi là Can táo, Mỹ táo, Lương táo. Đại táo hiện còn phải nhập của Trung Quốc.
Đây được xem là vị thuốc Bắc đa công dụng, chữa trị nhiều bệnh lý như: suy nhược, táo bón, mất ngủ, khí huyết hư tổn, đau thắt tim, bồn chồn, hồi hộp,…
Đại táo có 2 loại là Hồng táo (táo đỏ) và Hắc táo (táo đen). Hồng táo có màu hồng, thường là hái quả chín đem về sấy khô. Hắc táo có màu đen, quá trình chế biến còn phải qua nhiều công đoạn hơn, phải sắc chung với rễ con và thân lá của cây địa hoàng, cô thêm lượng đường vừa đủ, rồi mới phơi khô. Hắc táo thường sẽ có vị ngọt hơn nhiều so với hồng táo.

     Tại gian hàng, quý du khách đồng thời có thể tham quan khu vực trưng bày dụng cụ bào chế Đông dược. Tiêu biểu trong bào chế Đông dược là hai đại biểu thông dụng: Dao cầu và thuyền tán.
Hai dụng cụ này đóng vai trò đặc trưng của ngành nghề, gắn liền với thương hiệu của những đại phu, lang công, trong suốt chiều dài lịch sử y học cổ truyền. Từ Thái y viện đến các y quán, y đường… hình ảnh của hai dụng cụ này trở nên gần gũi và mang đầy Y khí

     Thuyền tán

     Thuyền tán là dụng cụ tán thuốc, thường được đúc bằng đồng hoặc bằng hợp kim gang, có độ cứng cao, không tạo mạt sắt trong quá trình nghiền thuốc. Thuyền tán có hình dáng như một tiểu chu (thuyền nhỏ), bên trên là một con lăn dạng đĩa hình tròn, có thiết kế âm dương lồi trên rãnh dưới để khớp với lòng rãnh trong thuyền. Hai bên là hai cần đạp. Phía dưới thuyền là bộ chân, có chỗ thiết kế ba chân, nhưng thường là bốn chân, phân ra làm tiền túc và hậu túc. Tiền túc hơi thấp so với hậu túc, tạo ra thế quỳ chầu.

     Thuyền tán dùng để nghiền các loại thảo dược khô, cần tán mịn để làm thuốc tán hoặc hoàn, với hàm lượng vừa và nhỏ. Người tán ngồi trên ghế cao hơn thuyền tán, dùng 2 chân đạp vào cần đạp, để lăn con lăn nghiền nát dược liệu. Tán thuốc cũng là một hình ảnh đẹp trong nghề Đông y, được thi vị hoá bằng tư thế ngồi đạp cần đạp một cách thong dong, vừa tán thuốc vừa đọc sách, biểu thị triết luận Trung Dung: một nghề đầy vất vả nhưng thanh cao.

     Dao cầu

     Dao cầu là một loại dao đặc thù dùng để cắt nhỏ dược liệu, với thiết kế theo lối đòn bẩy, một đầu dao gắn vào trụ của bàn tọa và cầu dao, một đầu cán vểnh để giảm lực khi kéo miết. Bàn tọa thường làm bằng gỗ tốt, có độ dày chừng 10 đến 15cm, dài gấp đôi hoặc gấp ba chiều dài của dao. Thiết kế này cho phép cân bằng lực khi kéo dao, đồng thời phần đế chắc giúp cho dao không bị vẹo khi cắt dược liệu cứng như quy bản, tam thất.

     Thuyền tán và dao cầu thể hiện tính kiên nhẫn, cẩn thận, tỉ mỉ, khéo léo của nghề Đông y.

     Siêu Sắc thuốc

     “Thang” chữ Hán có nghĩa là “canh”. Gọi “thang thuốc” là trỏ việc gói thuốc này cần được sắc với nước, cô lại ở hàm lượng nhất định thì mới dùng được. Thuốc “thang” khác với thuốc hoàn, thuốc hoàn thì tán mịn dược liệu ra rồi trộn với chất kết dính (mật ong hoặc hồ gạo nếp) vê thành viên, dùng uống hoặc ngậm trong miệng.
Dụng cụ sắc thuốc là siêu hoặc ấm. Ngày xưa, người bệnh thường chỉ dùng ấm đất để sắc thuốc. Ấm đất giữ nóng tốt, không làm biến đổi hương vị và chất lượng của dược liệu. Cữ nước sắc tuỳ thuộc vào từng thang thuốc, có thể sắc 1 lần hoặc nhiều hơn, và cần canh mức lửa cho phù hợp. Ngày nay, công đoạn sắc thuốc đã có ấm điện hỗ trợ, tiện dụng hơn rất nhiều, nhưng các cụ lang y thì vẫn thích sắc ấm đất bếp củi hơn.

     Ngoài ra, tại tiệm Đông Y còn mô phỏng tủ dược liệu truyền thống – nơi giữ và bảo quản kho thuốc của các y sĩ. Tủ dược liệu thường được làm bằng gỗ để bảo quản thuốc tốt hơn. Tủ thường sẽ có 81 hay 72 ngăn tủ, vì đây là con số phong thủy, tổng lại sẽ bằng 9, mang khái niệm trường cửu, đem lại sự may mắn và phát triển.

     Quy trình khám bệnh bốc thuốc cơ bản gồm các bước: bắt mạch, hỏi bệnh, kê đơn, bốc thuốc, tính tiền, hướng dẫn sử dụng thuốc. Ở trên mặt quầy này, quý khách đang nhìn thấy bộ dụng cụ làm việc của một thầy lang xưa. Cái gối gỗ này chính là gối bắt mạch, người bệnh đặt ngửa cổ tay lên trên gối này để thầy lang bắt mạch cổ tay. Mực tàu, bút lông, nghiên mực, bàn tính cổ saroban là bộ dụng cụ để kê toa và tính tiền của lang y. Ngày nay, để tiện dụng, các thầy lang hiện đại dùng giấy trắng và bút bi, gối bắt mạch gỗ cũng thay bằng gối bông cho mềm hơn.
Các vật dụng để đong và gói thuốc là cân tiểu ly và giấy, hồ lô. Giấy gói thuốc thường dai và dẻo hơn giấy khác, có độ bền cao và không thấm nước, để bảo vệ dược phẩm không bị nấm mốc. Hồ lô để dùng chứa thuốc lỏng hoặc thuốc viên hoàn tán, được chế biến từ quả bầu khô. Còn cân tiểu ly chính là cân đòn ngày xưa, dùng để cân những vị thuốc có trọng lượng rất nhỏ hoặc liều lượng cần phải chính xác, nếu dùng tay bốc ước lượng thì sẽ không đạt. Ngày nay, Đông y vẫn dùng giấy để gói thuốc, còn hồ lô và cân tiểu ly thì đã bị đổi sang vật dụng hiện đại hơn là bình/lọ và cân đĩa, cho tiện dụng.

Nội dung, thông tin được tư vấn bởi:

PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường – Viện trưởng Viện Hán Nôm, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Tú Mai – Giảng viên Khoa Ngữ Văn Đại học Sư Phạm Hà Nội, chuyên gia Hán Nôm
TS. Đỗ Thị Thu Hà – Giảng viên Khoa Ngữ Văn Đại học Sư Phạm Hà Nội, chuyên gia Văn hóa Việt Nam

Chia sẻ tin qua:
  • Copy to clipboard

Bài viết liên quan

Tìm vé