Chiếc nón, vật dụng thân thuộc trong đời sống đã trở thành một trong những biểu tượng truyền thống của văn hóa Việt Nam. Chỉ từ những vật liệu đơn giản như tre, trúc, lá dừa, lá cọ, rơm, lá cối, lá hồ, lá sen,…, với các kĩ thuật chuốt nan, uốn tròn, gài lá, đan chỉ, bàn tay khéo léo của người Việt đã làm nên chiếc nón với những hình dạng, kích cỡ khác nhau. Trân trọng kính mời quý khách chiêm ngưỡng.
Tại gian Nón Việt có mô phỏng hình ảnh một vòng nón lá, với 70 chiếc nón kích cỡ to nhỏ khác nhau được gắn trên các vòng tre, treo thả giữa gian nhà, biểu trưng cho sự hiện diện của nón trong nhiều phương diện đời sống của người Việt. Vật dụng này vừa để che nắng che mưa, cũng là vật đựng đồ khi cần thiết, là quạt mát lúc trời oi nóng. Gắn bó với người phụ nữ Việt, nón còn là vật trao gửi làm tin, là kỷ vật người mẹ trao cho con gái khi bước chân về nhà chồng,… Đến nay, chưa ai biết chiếc nón của người Việt ra đời chính xác vào thời điểm nào, chỉ biết rằng, xưa, hình dạng tiền thân của nón đã xuất hiện trên hoa văn chạm khắc của trống đồng Ngọc Lũ thời Đông Sơn.
Tại Việt Nam, mỗi thời kì lịch sử, mỗi vùng miền có những cách thức làm nón và các hình dạng nón khác nhau, phù hợp với nhu cầu, điều kiện tự nhiên và các chất liệu có sẵn tại địa phương. Có thể kể đến các loại nón như: nón dấu (loại nón có chóp nhọn của lính thú thời xưa), nón Gò Găng (hay nón ngựa, sản phẩm riêng của Bình Định, nón làm bằng lá dứa, đội khi cưỡi ngựa), nón rơm (loại nón làm bằng cọng rơm ép cứng), nón quai thao (hay nón ba tầm, gắn với các liền chị Quan họ Bắc Ninh), nón lá sen, nón thúng, nón bài thơ xứ Huế,…
Tại gian Nón Việt, quý khách sẽ được biết tới một số loại nón khác nhau tại nhiều vùng miền trên cả nước, được trưng bày tại các khu vực khác nhau.
1. Khu vực trưng bày nón Ba Tầm và nón lá Huế
Nón lá Huế
Nói tới xứ Huế cổ kính và mộng mơ, không thể không nhắc tới tà áo dài và nón Huế. Nón lá Huế, hay còn gọi là nón bài thơ, với kĩ thuật ép những câu thơ, các hình ảnh trên hai lớp nón lá, tạo nên sản phẩm nón màu trắng sáng, soi qua ánh sáng là đọc thấy bài thơ, nhìn thấy các hoa văn trên nón. Nón được tạo hình từ khung chằm (hay khuôn nón) gồm 12 thanh gỗ vát mảnh, chụm lại trên đỉnh, tản đều phía dưới, với kĩ thuật tạo dáng mái, giữ khoảng cách đều giữa các vành và độ tròn của vành. Vành nón được uốn từ phần thân cây lồ ô. Một nón lá thông thường sẽ có 16 vành từ nhỏ đến lớn. Lá nón được chọn phải non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá trắng xanh, mặt lá bóng. Người thợ làm nón tỉ mỉ từ khâu chọn lá, phơi lá, vuốt lá, chuốt từng nan tre, trúc, chằm (khâu) nón khéo léo để lá nón không rách, không tạo nếp nhăn hoặc vết lồi lõm. Mỗi đường kim mũi chỉ là tâm huyết của người thợ gửi trong nón lá.
Ở Huế hiện có những làng nghề làm nón nổi tiếng như làng Phú Cam (Thừa Thiên Huế), Tây Hồ, Mỹ Lam (Phú Vang), Phước Vĩnh,… Từ các làng nghề nổi tiếng này, nón Huế theo chân người Việt đi khắp mọi miền đất nước, được người Việt và du khách
Nón Ba Tầm
Và đây là chiếc nón Ba tầm, hay còn gọi là nón quai thao.Nón thường được lợp bằng lá gồi hoặc lá cọ, có hình dạng như cái lọng, đỉnh nón phẳng, lòng nón đính một cái vành hình phễu gọi là khùa để nón được cố định trên đầu của người đội. Vành nón còn được kết đôi chùm chỉ thao sặc sỡ để làm duyên, nên nón còn được gọi là nón quai thao. Khi đội đầu, người phụ nữ lấy tay giữ quai trước ngực, nón sẽ không bị đung đưa, và tiện điều chỉnh khi đội thẳng hoặc lúc cần nghiêng che nắng. Trong vành nón, các nghệ nhân có khi còn thêu các họa tiết, hỉnh ảnh, chẳng hạn như hoa văn trống đồng Đông Sơn, tạo nên những chiếc nón có màu sắc độc đáo và nổi bật.
Nón quai thao xưa thường được người phụ nữ sử dụng trong các dịp hội hè, lễ tết. Nay, nón là một phần không thể thiếu trong trang phục biểu diễn của các liền chị Quan họ, nên nón còn được gọi là nón Quan họ.
2. Khu vực trưng bày các loại nón
Nón Ngựa Phú Gia
Xin được tiếp tục giới thiệu với quý khách một loại nón với chóp nhọn ấn tượng – nón Ngựa Phú Gia của người dân đất võ Bình Định.
Làng nghề Phú Gia với hơn 300 năm tuổi, nổi tiếng với nghề làm nón ngựa. Gọi là nón ngựa vì xưa, nón được làm cho quan quân cưỡi ngựa, với phần chóp nón được bịt bạc. Chiếc nón ngựa được làm công phu, tỉ mỉ với 3 công đoạn: làm mê sườn, đan sườn mê và chằm (khâu) nón. Bên trong nón được thêu nhiều hình ảnh, họa tiết trang trí như các loại hoa (mai, lan, cúc, trúc), hình rồng, phượng, lưỡng long tranh châu,…
Hiện, Phú Gia làm chủ yếu hai loại nón, một loại chóp nón để trần, trên đỉnh có một chùm chỉ ngũ sắc phất phơ; loại thứ hai, chóp nón gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long, lân, quy, phụng, quai nón được làm bằng những dải lụa đỏ hoặc xanh, dưới cằm có chỏm tua.
Nón Tu Lờ
Nón Tu Lờ, hay còn gọi là nón lá Nùng, một loại nón đặc trưng của dân tộc Nùng, khác biệt với nón lá của người Việt cả về hình dáng, cách làm và chất liệu.
Khung nón được đan bằng nan tre, với hai lớp khung bên ngoài và bên trong. Sau khi đan lớp bên ngoài, người thợ nón trải đều lá mai, lá chuối bên trong, ép chặt và cố định lớp khung thứ hai lên.
Nón Lâm Xung
Nón Lâm Xung: hay còn được gọi là nón lá Tròn Nam, ở thôn Tri Lễ xã Tân Ước huyện Thanh Oai- Hà Nội. Nón Lâm Xung được ra đời nhờ vào một người đàn ông tên Nghiêm Phú Đào do mê bộ phim Thủy Hử của Trung Quốc, mê chiếc nón của nhân vật Lâm Xung nên đã bắt trước làm thử. Và từ đó nón Lâm Xung ra đời và được rất nhiều người ưa thích, và trở thành thương hiệu của làng nón Tri Lễ. Nón được làm từ 2 lớp lá cọ, cài giữa là một lớp mo cau. Nón cũng có 1 vòng khuôn trên nhỏ dưới mở to, khoanh eo ở giữa thắt lại. Nón rất gọn nhẹ và thích hợp cho sinh hoạt hằng ngày.
Nón lá Chuông
Kế tiếp là chiếc nón lá làng Chuông. Với chất liệu lá cọ, người nghệ nhân dân gian đã sáng tạo nên chiếc nón cối lá rất gọn nhẹ, tiện dụng, nam nữ có thể dùng trong nhiều bối cảnh đời sống thường ngày.
Nón làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) trở thành một đặc sản của người dân Việt, đã được giới thiệu và xuất khẩu tới nhiều nước.
Nón quai thao
Cuối cùng là chiếc nón có tên gọi là nón thúng quai thao. Nón có hình dạng giống nón ba tầm nhưng nhỏ gọn hơn. Nếu nón ba tầm thường được sử dụng trong các dịp hội lễ thì nón thúng quai thao, với thành nón che rợp khuôn mặt người đội, rộng và thoáng mát thường được các bà các chị dùng đi làm đồng để che nắng, che mưa.
Nội dung, thông tin được tư vấn bởi:
PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường – Viện trưởng Viện Hán Nôm, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Tú Mai – Giảng viên Khoa Ngữ Văn Đại học Sư Phạm Hà Nội, chuyên gia Hán Nôm
TS. Đỗ Thị Thu Hà – Giảng viên Khoa Ngữ Văn Đại học Sư Phạm Hà Nội, chuyên gia Văn hóa Việt Nam
vi
English
中文 (中国)
한국어 







![[DEAL HỜI] Trọn bộ ưu đãi HOT nhất tại Nha Trang](https://static.vinwonders.com/production/cong-vien-nuoc-nha-trang-1-336x170.jpg)

